Nhà thơ Võ Quang Diệm – Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, quê ở xã Thanh Lương, huyện Thanh Chương (cũ), nay là Xuân Lâm, tỉnh Nghệ An. Đọc thơ ông, dễ nhận ra một mạch nguồn xuyên suốt: tình yêu quê hương, ký ức gia đình, những con người và vùng đất đã đi qua cuộc đời, tất cả được lắng lại trong một tâm hồn nặng tình với Xứ Nghệ. Các tập thơ như: Ký ức tình yêu, Chốn quê neo đậu hồn tôi, Lời ru cho em, Bỗng dưng thèm trách mắng, Ta về lợp những mái che, Hương tình người xứ Nghệ, Dòng sông ví giặm đã phần nào nói lên thế giới tinh thần ấy.

Thơ Võ Quang Diệm chủ yếu là mạch thơ tự sự, giàu tính trữ tình. Đó là dòng thơ phản ánh, phản chiếu đời sống Xứ Nghệ qua hệ thống nhân vật trữ tình: Đó là tôi, với tư cách là nhân vật trữ tình thứ nhất, là người thân, là khóm lúa, bờ tre, mái rạ… quê nhà.
Thanh Chương (cũ) là vùng đất cổ, có lịch sử hơn 500 năm, được ví như miền văn hùng, võ lược của xứ Nghệ. Đây còn là vùng đất cách mạng, giàu truyền thống yêu nước. Không riêng người Thanh Chương, những người sinh ra, lớn lên ở xứ Nghệ, hiện ngoài sáu mươi tuổi đều còn nhớ câu thơ: “Kìa Bến Thủy đứng đầu dậy trước/ Nọ Thanh Chương tiếp bước đứng lên…” (Bài ca cách mạng).
Thời nào, đất Thanh Chương cũng xuất hiện những con người làm rạng danh xứ Nghệ, trong đó có những danh nhân là văn nghệ sĩ. Thời hiện đại, phải nhắc đến nhà thơ Tôn Quang Phiệt (1900 – 1973); nhà văn, nhà phê bình văn học Đặng Thai Mai (1902 – 1984); nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn (1926 – 2011); nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ (1936 – 2022); nhạc sĩ Phan Thanh Chương, NSND Xuân Huyền; các nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi (1933 – 2008); nhà thơ Võ Thanh An, tức Trần Quang Vinh (1942 – 2017); nhà thơ Lê Huy Mậu…
Nhà thơ Võ Quang Diệm luôn tự hào về quê hương. Trong tâm hồn ông có một dòng chảy ký ức bắt nguồn từ lịch sử: “Đất nước mỗi lần giặc giã, chiến chinh/ Càng ngời sáng tấm lòng người xứ Nghệ/ Áo vải, chân trần, đời thường lam lũ/ Khi Tổ quốc cần, không sợ hiểm nguy”, (Xứ Nghệ mình ơi).

Truyền thống dựng nước, giữ nước của vùng đất Thanh Chương hiện lên trong thơ ông, mang đến vẻ đẹp sử thi: “Có hy sinh nào hơn thế này chăng?/ Từ kháng chiến Lam Sơn, đến phân tranh Trịnh – Nguyễn/ Khi Nguyễn Huệ thần tốc đưa quân Bắc tiến/ Cả dân tộc gồng mình đánh bại giặc xâm lăng/ Trai gái quê mình là lực lượng tiên phong!”, (Xứ Nghệ mình ơi).
Thanh Chương là đất học. Trong chế độ khoa cử thời phong kiến Việt Nam, Nghệ An có 150 vị đỗ đại khoa, riêng Thanh Chương chiếm tới 25 vị, chiếm gần 17%. “Tinh thần khoa bảng” như một dòng chảy được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhà thơ, TS Võ Quang Diệm từng là học sinh giỏi toán của tỉnh Nghệ An, năm 1969, ông được Nhà nước chọn đi Liên Xô (cũ) học tập, chuẩn bị nhân tài cho đất nước sau khi chiến tranh kết thúc.
Người Thanh Chương thường gọi đùa quê mình là “quê nhút”, cách gọi này ít nhiều có hàm ý về sự vất vả, khó khăn, nhưng cũng là niềm tự hào, kiêu hãnh. Trong bài thơ về nhà thơ Lê Huy Mậu, tôi từng viết: “Được gặp anh nhớ quá quê Dùng / Cả góc chợ thơm lừng hương vị nhút”. Nhà thơ Võ Quang Diệm thì viết: “Về ăn “đặc sản” truyền đời/ “Cà chua nhút mặn” và nuôi chí bền”, (Về quê).
Nhạc sĩ Phan Thanh Chương kể rằng, Thanh Chương xưa là đất tứ tắc. Huyện có ba mươi sáu bến đò ngang, nghe tiếng Thanh Chương là nghe tiếng gọi đò, có thân thiết nhưng cũng nhiều khắc khoải, lỡ làng. Câu ca vọng lại cũng từ đói nghèo muôn kiếp: “Cây đa ba nhánh chín chồi/ Ai về Tiên Hội cạp cồi lộ ngô/ Thịt cá hương hoa, nhút cà gia bản/ Thanh Chương như cánh hạc đầu đình, muốn bay chẳng cất nổi mình mà bay”.
Gia đình nhà thơ Võ Quang Diệm không phải thuộc diện nghèo, trước cải cách ruộng đất (CCRĐ) do có nhà ngói, sân gạch và ít ruộng đất nên bị quy là địa chủ. “Bố tôi thì đi hoạt động cách mạng, ở nhà, đội CCRĐ đến họ thu hết, chỉ còn chiếc rổ đựng mấy chiếc bát vỡ. May sao, nhà thờ, gian bếp liền chuồng trâu lợp bằng rạ không bị tịch thu nên mưa nắng, đêm hôm, mấy mẹ con ông còn chỗ để tá túc tiên tổ. Bố tôi là Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính xã Đông Xuân, mẹ tôi là Đảng viên Đảng Lao động Việt Nam mà còn như thế đấy. Một đêm mưa bão, chuồng trâu dột nát “Nhìn các con trùm áo tơi tránh mưa rơi giọt giọt/ Mẹ đau lòng gào thét gọi cao xanh”, ông hồi tưởng lại. May sao, sau sửa sai, gia đình ông được “hạ thành phần” xuống trung nông. Bố ông lúc đó cũng làm ở Phòng Kế hoạch của Ty Thương nghiệp Nghệ An nên Võ Quang Diệm mới được ra nước ngoài học tập.
Võ Quang Diệm lớn lên trong bọc đùm của mẹ. Tình mẫu tử bao giờ cũng thiêng liêng nhất trong mọi thứ tình cảm. Con người có thể nghi ngờ tất cả, ngoại trừ tình mẹ dành cho con. Hẳn nhiên, vì thế, các ca khúc, những bài thơ về mẹ bao giờ cũng đại diện cho chân ái, xúc động. Là nhà thơ, Võ Quang Diệm, không ngoại lệ, đã viết nhiều thơ về mẹ. “Không gì ngọt ngào hơn / Những lời ru của mẹ/ Thấm dần hồn con trẻ/ Từ nhân cách làm người”, (Mẹ là duy nhất đời con). Ngoài bài thơ này, ông còn có Ước mong của mẹ, Kính mừng mẹ đại thọ 100 tuổi, Còn mẹ còn quê…
Võ Quang Diệm là người sống nội tâm, trân trọng những giá trị truyền thống của gia đình. Do vậy, không chỉ làm thơ về mẹ, trong mảng thơ về đề tài gia đình, ông còn có thơ viết về bố, thơ dặn con, kể cả con dâu, con rể.
Thơ phải đi ra từ cuộc sống. Hay nói cách khác, cuộc sống vỗ vào tâm hồn, khúc xạ qua tâm hồn bật lên thành thơ. Thơ không bắt rễ từ cuộc sống, trở lại làm đẹp cho cuộc sống thì thơ làm gì? Chính vì thế, đọc thơ Võ Quang Diệm còn cho thấy ông là người lắm suy tư, ưu tư. Những vấn đề như sự cố biển năm xưa ở Vũng Áng (Hà Tĩnh), đại dịch Covid-19, biển đảo, người lính và chiến tranh cách mạng… đều xuất hiện trong thơ ông.
Đọc thơ Võ Quang Diệm, tôi thấy nhận xét của một người đồng hương Nghệ An của ông, nhà văn Nguyễn Đăng An rằng: “Điểm toát lên trong thơ anh là tiếng lòng vang ngân của chính anh với quê cha đất tổ, với những vùng đất đã đi qua cả trong và ngoài nước, với mẹ cha, vợ con, bè bạn trong đó có vài bóng hồng vụt thoáng qua, với nghề và với những trăn trở của thời cuộc” là thấy rất sâu sắc, không chỉ ở thị giác. Võ Quang Diệm là nhà thơ nặng lòng ký ức.

Võ Quang Diệm làm thơ từ thời đi học. Hẳn nhiên, đó là những nét bút đầu tiên của tâm hồn. Một lần tôi hỏi, ai là độc giả đầu tiên của ông, Võ Quang Diệm bảo vợ, con. “Vợ từng ghen lên ghen xuống vì một bài thơ. Ghen đến mức bỏ về quê Kỳ Anh, Hà Tĩnh. “Anh nhớ em hoài mọi lúc mọi nơi/ Nhớ khi ăn, khi đi, đi đứng, khi ngồi/ Cả những khi nằm không thể nào chợp mắt”. Đúng như con trai đã cảnh báo: Bố chưa in thơ, bố là thi sĩ, nhưng in thơ rồi, bố sẽ là tử sĩ”. Số anh may mắn được “hồi sinh” nhờ bài thơ “Bỗng dưng thèm trách mắng”, một bài thơ có tứ lạ viết về công lao của vợ: “Nhà không có con gái/ Vợ thiệt kép, thiệt đơn/ Sinh la chồng mắng con/ Là bài ca thường nhật”.
Không chỉ làm thơ “nịnh vợ”, đề tài tình yêu cũng là một mảng thơ lớn của nhà thơ Võ Quang Diệm. Ông từng có 2/7 tập thơ mang tên Lời ru cho em, Bỗng dưng thèm trách mắng, viết về tình yêu.
Câu chuyện của Võ Quang Diệm làm tôi nhớ đến nhạc sĩ Thuận Yến (1932 – 2014), trong một chương trình của chuyên mục Người đương thời, ông kể, vợ ông cứ truy vấn “nhân vật em” trong ca khúc là ai? Không yêu, không đắm say, thì khó có thơ, nhưng cũng vì thơ, nhiều người bị “lũy thừa” những bất ổn trong tâm hồn. Thế mới biết Nguyễn Du tài tình, trong Truyện Kiều, khi Thúy Kiều báo ân, báo oán, người được cô tha, đấy chính là Hoạn Thư, bởi “Ghen tuông thì cũng người ta thường tình”, (câu thơ thứ 2366, hồi 19), “Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai!”, (câu thơ thứ 2370).
Tôi cứ suy nghĩ mãi về tên các tập thơ của nhà thơ Võ Quang Diệm. Chốn quê neo đậu hồn tôi, Ta về lợp những mái che, Hương tình người xứ Nghệ, Dòng sông ví giặm. Ông nặng lòng với cố thổ, quê hương xứ Nghệ. Trong “bản đồ tâm hồn” của Võ Quang Diệm nhằng nhịt ký ức về người và đất Thanh Chương. Đó là nẻo Nghệ, vòm Nghệ, nơi có những mái che tâm hồn.
“Ta về lợp những mái che/ Lợp cho mát những trưa hè nắng nung/ Lợp cho ấm những đêm đông/ Giá băng vần vũ, gió giông mù trời” và “Người ơi! Ta gọi – Người ơi!/ Ta về với những mảnh đời yêu thương/ Ta về với những mái trường/ Giữa nơi biên viễn bên sườn suối khe…”, (Ta về lợp những mái che).
“Hồn tôi neo đậu chốn này/ Nơi mẹ tựa cửa tháng ngày trông con/ Mẹ còn là quê hương còn!”, (Còn mẹ còn quê); “Nhớ về nơi cắt rốn, chôn nhau/ Nơi dòng sông tuổi thơ con ngụp lặn/ Nơi mẹ kính yêu một thời ngậm đắng/ Nuốt nước mắt vào lòng, nhìn nhà đội nón ra đi/…/Tất cả vì chúng con mẹ chẳng quản gì”, (Khúc hoài niệm). Nhà thơ Võ Quang Diệm xác tín, hồn người, hồn thơ ông neo ở nẻo Nghệ.
Thơ Võ Quang Diệm giàu nhạc tính. Vì thế, ông đã có hơn 10 bài thơ được các nhạc sĩ phổ nhạc, trong đó có ca khúc “Nhớ chiều thu Hà Nội” đạt giải Nhất Hội diễn của UNESCO Hà Nội chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội và ca khúc Dòng sông ví giặm, giai điệu mượt mà, sâu lắng.
Nhà thơ Võ Quang Diệm là dân kỹ thuật. Sau khi tốt nghiệp Đại học Xây dựng Moscow ở Liên Xô (cũ), ông trở về Việt Nam làm việc. Đầu những năm 1980, Võ Quang Diệm thi đậu nghiên cứu sinh và trở lại Liên Xô. Tháng 3/1987, sau khi bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ (sau này được công nhận là tiến sĩ), ông trở về công tác ở Bộ Xây dựng và các đơn vị thuộc Bộ. Trước lúc nghỉ hưu (năm 2011), ông là chuyên viên cao cấp, Phó Vụ trưởng Vụ Vật liệu Xây dựng.
Gọi là nghỉ chế độ, nhưng không “ngơi nghỉ” ông tiếp tục tham gia thỉnh giảng trong các trường đại học. Từ năm 2015 đến nay, TS Võ Quang Diệm là Chủ tịch Hiệp hội Tấm lợp Việt Nam. Bàn chân ông lại được rong ruổi trên nhiều công trình, dự án từ thiện khắp miền núi, vùng sâu, vùng xa từ Bắc chí Nam, làm chuyên gia tư vấn dự án: “Tăng cường sản xuất và sử dụng gạch không nung tại Việt Nam” do UNDP tài trợ. Ông từng là nhà tư vấn thiết kế công nghệ các công trình vật liệu xây dựng uy tín, chuyên gia xây dựng và phản biện các chính sách về quản lý vật liệu xây dựng, có nhiều đóng góp cho ngành tấm lợp fibro xi măng Việt Nam. Vốn sống và sự từng trải là thứ bột gột nên thơ Võ Quang Diệm.
“Một đời bươn chải liên miên/ Bên mình đau đáu một niềm nhớ thương”, (Bên mái trường xưa). Hai câu thơ xác tín tâm hồn. Hay nói cách khác, trong tâm hồn ông, có một “dòng sông ví giặm” chảy mãi, phồn thực và phồn sinh.
Ngô Đức Hành