“BẾN CHÂN TÌNH” NÍU GIỮ MỘT HỒN THƠ

09-09-2026

BẾN CHÂN TÌNH NÍU GIỮ MỘT HỒN THƠ

 Hải Triều

(Nhà báo, giáo viên)

           Tôi biết tiến sỹ Võ Quang Diệm là một nhà khoa học, nhà tư vấn thiết kế, nhà quản lý, giảng viên đại học trước khi biết anh là một nhà thơ. Từ một học sinh chuyên toán Xứ Nghệ đến một người yêu thơ, thích làm thơ, anh làm thơ “ cho mình, cho một người đọc và một người không đọc...”. Thơ theo anh trên mọi nẻo đường đời, anh dùng thơ để ghi lại những cảm xúc bất chợt. Anh quan niệm thơ là một công cụ để biểu đạt một cảm xúc về thiên nhiên, về tình yêu quê hương đất nước, về tình yêu đôi lứa, về những trăn trở đời thường bất chợt thăng hoa:

             Ai xui cảm xúc tình cờ

Nâng niu chưng cất nên thơ tặng đời

(Cảm xúc...)

Bạn đọc biết đến thơ anh qua 3 tập thơ “ Ký ức tình yêu”, “ Chốn quê neo đậu hồn tôi” và “ Lời ru cho em”. Khi ca khúc “ Nhớ chiều thu Hà Nội” nhạc Nguyễn Văn Bằng, thơ Võ Quang Diệm đạt giải Nhất Hội diễn của UNESCO Hà Nội chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội được NSƯT, nhạc sĩ Trần Đức giới thiệu trên sóng FM thì bạn đọc, bạn bè, đồng nghiệp đã đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Lần này “ Bỗng dưng thèm trách mắng” - tập thơ thứ tư của anh chuẩn bị được Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành, là sự đơm hoa, kết trái của một tình yêu thơ và sự say mê sáng tạo không ngưng nghỉ.

“Thơ Võ Quang Diệm đã tạo được cho mình một cái bến mang tên “chân tình” để níu giữ hồn thơ, trải nghiệm, giao hòa cùng cõi đời biến động” (Tapchinhavan.vn). Hầu hết những bài thơ của anh đều dung dị, ý tứ nhẹ nhàng, sâu lắng, không gò ép về vần điệu, nhưng đã toát lên một phong cách chân thực, một tình cảm chân thành tha thiết đối với quê hương, đất nước, với người thân, bạn bè, những hoài niệm về tình yêu đôi lứa và cả những trăn trở, day dứt trước một bức tranh đa sắc màu của thời cuộc.

Tập 4, thơ anh có cái tên “Bỗng dưng thèm trách mắng” gây cho tôi sự hiếu kỳ. Tôi được anh giải thích và kể cho câu chuyện khá thú vị, như một giai thoại văn chương. Trước khi gửi nhà xuất bản in tập ‘‘Ký ức tình yêu”, anh đưa tập thơ cho các con thẩm định. Đứa thì khen hay, đứa thì phán tỉnh bơ “ Bố chưa in thơ bố là thi sĩ, nếu bố in thơ bố sẽ là “tử sĩ”. Tập thơ ra đời và anh “ bị trở thành tử sĩ”, bởi các bài thơ tình “ Mơ”, “Noel”, đặc biệt là bài “Nhớ”:

          Anh vụng dại đánh mất em mãi mãi

          Để nỗi nhớ thương đeo đẵng suốt cuộc đời

          Dù không muốn cũng không thể nào cưỡng lại

          Anh nhớ em hoài mọi lúc, mọi nơi

                   (Nhớ -Tập “Ký ức tình yêu”)

 Rồi một đêm vợ vắng nhà, bỗng dưng trời nổi giông bão, gió giật, rung lắc, đập cửa thùng thùng “ Gió đập cửa thốc vào/ Dựng mình lên quát tháo”, buộc anh phải dậy làm cái việc xưa nay vợ làm “Một mình chạy đôn đáo/ Tầng dưới lên tầng trên/ Đóng chặt cửa cài then/ Mới hoàn hồn nằm tiếp”. Cảm xúc thăng hoa để anh viết “Bỗng dưng thèm trách mắng”. Bài thơ chân thực mà dí dỏm, sự thấm thía của người chồng vụng về khi thiếu vắng bàn tay vợ, sự ngộ ra vợ là không thể thiếu, dù đôi khi vẫn bị rầy la, anh đã nói thay cho nhiều người. Tôi tin, người vợ nào cũng thích bài thơ này, cũng muốn đọc bài thơ cho “nửa kia” của họ nghe, mượn tác giả để khẳng định họ là quan trọng, là báu vật không thể thiếu của “đám mày râu”. Bài thơ như một sự cứu cánh, liều thuốc hồi sinh đối với tác giả. Tôi đồng tình với tên gọi tập thơ bởi một lẽ khác nữa. Mảng thơ viết về nhân tình thế thái của anh cũng là những lời trách cứ, trách đời làm cho tập thơ thêm đa sắc màu và cuốn hút.

 Chữ tình - với 4T: Tình yêu quê hương, đất nước, lứa đôi và tình người là hồn cốt, xuyên suốt tập thơ “Bỗng dưng thèm trách mắng”. Thông thường “ Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi”, nhưng với Võ Quang Diệm thì không phải vậy. Trong anh, ngoài nơi chôn nhau cắt rốn: Xứ Nghệ, nơi mưu sinh: Hà Nội còn có xứ Bạch Dương thơ mộng, nơi gắn bó với tuổi trẻ, nơi đào tạo, chắp cánh cho cuộc đời anh, thơ anh.

             Mạch thơ viết về quê hương xứ Nghệ của anh cứ cuồn cuộn tuôn trào. Nào là " Xứ Nghệ mình ơi", "Sông Lam", " Nhút Thanh Chương", "Tương Nam Đàn"  nào là "Chợ làng", "Về Quê" ,"Có một thành Vinh". Đọc những vần thơ đó ta thấy anh là người con nặng lòng và luôn đau đáu về quê hương, về xứ Nghệ "địa linh nhân kiệt", cũng là nơi "Rốn bão lũ, gió Lào, nơi để lòng anh luôn "thương về miền đất cằn sỏi đá", và tất cả những gì ở vùng quê đó từ “hồn quê”, “dáng mẹ”, “dòng sông”, “câu Ví”, “giọng nói”, “tính cách” đều khơi nguồn cho mọi sự say mê sáng tạo, chắp cánh cho thơ anh. Đặc biệt là hương vị của các loại đặc sản quê nghèo như nhút”, “tương đã đi vào thơ anh như một nỗi niềm thường trực khó quên.

                            Hương vị nhút tương đi mô cũng nhớ

                           Thứ đặc sản sinh ra từ nghèo khó

                           Nuôi sống những danh nhân kiệt xuất loài người.

                                      (Sông Lam)

             Ở anh luôn đầy ắp những cảm xúc về quê hương. Những địa danh, kỷ niệm khắc sâu vào ký ức thuở thiếu thời đã trở thành nỗi nhớ không nguôi suốt cả quãng đời du học, mưu sinh xa quê. Những cảm xúc đó đã thăng hoa lắng đọng lại thành thơ. Phải là người có một tình yêu da diết, luôn trăn trở, tự hào, xót thương và luôn dõi theo mảnh đất chôn nhau cắt rốn, địa linh, nhân kiệt, nhưng thiên nhiên khắc nghiệt, con người phải vật lộn để mưu sinh, để tồn tại và luôn phải đứng mũi chịu sào, chịu hy sinh gian khổ, chịu thiệt thòi, luôn phải góp sức người, sức của vào hầu hết các cuộc chiến giữ nước của lịch sử dân tộc mới có thể đúc kết được những câu thơ phơi bày ruột gan:

              Có hy sinh nào hơn thế này chăng?

Từ kháng chiến Lam Sơn, đến phân tranh

                                         Trịnh - Nguyễn

Khi Nguyễn Huệ thần tốc Bắc tiến

Cả dân tộc gồng mình kháng chiến chống

                                                   xâm lăng

Trai gái quê mình là lực lượng tiên phong!

                   (Xứ Nghệ mình ơi)

           Tình yêu đất nước luôn thường trực, quyện chặt trong thơ Võ Quang Diệm. Biên giới, Hải đảo đau đáu trong anh để tuôn trào ra “ Cột cờ Lũng Cú”, “ Chiều Biên cương”, “ Thương về Hoàng Sa”, “Nỗi niềm tháng ba”... Nếu “ Chiều Biên cương” như một khúc ca bi hùng, lắng hồn sông núi, lay động người đọc, thì “ Cột cờ Lũng Cú”, “ Thương về Hoàng Sa” khẳng định ý chí, quyết tâm của dân tộc Việt:

                Con cháu Lạc Hồng vì non nước

                             Giữ Biên cương đỏ thắm cờ bay.

                                       (Cột cờ Lủng Cú )

                 Hay              

                             Một tấc sông núi biển trời

                             Của nước Nam phải trả người nước Nam!

                                      (Thương về Hoàng Sa)

             Ngay cả khi anh đứng ngắm tượng đài Hồ Chủ tịch giữa thành Vinh quê hương, Võ Quang Diệm cũng nghĩ về biển đảo. Chỉ có mở cửa, giao thương với thế giới bên ngoài thì đất nước mới có cơ hội để phát triển. Kinh nghiệm của cha ông ta từ thương cảng Vân Đồn ở thế kỷ 13, thương cảng Hội An ở thế kỷ 16 – 17, rồi bài học của nước Nga đầu thế kỷ 18, khi Pie Đại đế xây dựng thành phố Xanh -téc-bua để giao thương với thế giới phương Bắc, đã mở ra giai đoạn phát triển mới của nước Nga.Tôi thích cái cách liên tưởng của anh, từ hướng nhìn của tượng đài Hồ Chủ tịch để nói về hướng mở cửa, hướng phát triển của đất nước: Hướng Đông-Hướng biển. Biển không chỉ là hướng để giao thương mà biển còn là vựa tài nguyên khổng lồ, là tiền đồn của đất nước không được phép sao nhãng, lãng quên và anh mượn hình tượng Bác để nhắn gửi:

                           Đêm thành Vinh gió lộng, huyền ảo đèn sao

Lung linh tượng đài Bác nhìn về phía biển

Bác gợi mở con đường phát triển

Nhắc nhủ cháu con hướng về biển đảo quê hương.

                   (Có một thành Vinh)

Thơ Võ Quang Diệm chan chứa tình người, tình yêu, cái tình trong thơ anh cũng mộc mạc, chân tình, trong đó, tình yêu lứa đôi là nguồn cảm xúc bất tận chắp cánh cho thơ anh bay bổng:

                             Tình em nâng cách thơ bay

                             Em và thơ nỗi đắm say cháy lòng.

                                         (Cảm xúc)

Đối với những người làm thơ xưa nay “ trong đời có một chút thơ và trong thơ có một chút đời” là lẽ thường tình. Các nhà thơ tình thường có nhiều trải nghiệm: yêu nhiều, si tình, tình giăng mắc, khổ đau, thất bại về tình, mới viết nên những áng thơ tình say đắm lòng người đọc, sống mãi với thời gian, bởi “có bột mới gột nên hồ”. Cuộc đời và sự nghiệp của đại thi hào Nga A. Puskin, Bà Chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương, nhà thơ tình Xuân Diệu đã chứng minh cho luận điểm đó.

“ Tự mình chui rọ, đeo gông” như một bài tự bạch về tình yêu, cho thấy tác giả cũng thuộc loại đa tình và nhiều trải nghiệm trong cuộc kiếm tìm “ một nửa kia” của mình. Những “Dòng sông”, “ Hằng”, “ Nga”, “ Tuyết”, phải chăng là những thứ bột để gột nên những cảm xúc, những hoài niệm về tình yêu trong thơ anh. Đọc những bài thơ tình của anh, ta càng cảm phục và ghen tỵ với tình yêu anh giành cho “Bông hồng” mối tình đầu của mình, đằm thắm, âm thầm, thủy chung, trong veo và siêu tưởng:

          Lặng thầm vẫn dõi theo nhau

          Lặng thầm yêu đến bạc đầu vẫn yêu.

                   (Lặng thầm)

 Nhìn cái cách anh tôn thờ tình yêu, thủy chung và hết mình với mối tình đã lựa chọn, có vẻ như anh bị ảnh hưởng bởi những tháng năm du học ở nước Nga, ảnh hưởng bởi tính cách “cao thượng” trong tình yêu của Đại thi hào A. Puskin:

      “Tôi yêu em” cháy hết mình

                   Vẫn mong em được người tình yêu hơn.

                             (Viết bên tượng Puskin)

                 Hay:           

           Nhớ thương nhuộm trắng mái đầu

          Thánh kinh anh vẫn nguyện cầu cho em.

                             (Nguyện cầu)

 Anh viết thơ tình khá mạnh bạo, ngoài khao khát đời thường pha một chút trần trụi nhưng hóm hỉnh, kích hoạt trí tưởng của người đọc (S là), đôi khi mạnh liệt và ấn tượng:

                   Chao trời, rung đất nghiêng cây

                   Chiều thăm thẳm biếc, tình ngây ngất tình.

                                      (Giọt thu)

 Tôi thích cái cách anh biểu đạt tình yêu một cách ẩn dụ, để người đọc liên tưởng đến một vẻ đẹp vừa quyến rũ vừa cao sang. Còn gì cuốn hút hơn khi tự mình vén” mây” lên để chiêm ngưỡng một vẻ đẹp trời phú “một đóa thiên nhiên” dưới ánh sáng huyền ảo-ánh trăng, thú thưởng nguyệt, ngắm hoa đến thế là cùng, thật mãn nguyện:

                   Vén mây khều ánh trăng lên

                   Lung linh một đóa thiên nhiên tuyệt trần.

                                      (Với quỳnh )

           “Bến chân tình” trong thơ Võ Quang Diệm còn được thể hiện rất rõ khi anh viết về triết lý sống, về đạo làm người. Anh có may mắn được thừa hưởng sự giáo dục có nề nếp của gia đình và xã hội. Bài“ Mẹ tôi” một bài thơ chân tình mà xúc động. Hình ảnh một người mẹ lam lũ "ngược xuôi bươn chải" chịu đựng, vượt qua những biến cố của số phận “ Sẹo đời mẹ đã lành chưa?” để nuôi con, cháu, chắt nên người. Một người mẹ kiệm cần, nhân hậu, luôn bày dạy cho con cháu đạo làm người "gieo tâm gặt phúc", "giữ nếp gia phong", " vẹn tình hiếu nghĩa", "êm trong ấm ngoài" đã để lại cho ta một ấn tượng tốt đẹp và chúng ta có thể nghĩ rằng có một tiến sĩ ngày nay quả là nhờ "con khôn tại mẫu".

Xem cái cách anh tiếp nhận, ghi nhớ, mang theo bên đời những lời dạy của thầy cô về triết lý sống và cách thể hiện trong thơ nhẹ nhàng, sâu lắng mà thuyết phục, là đã góp phần làm cho chúng ta có quyền tự hào về những người thầy cô tâm hồn trong như pha lê, những người thầy cô luôn vì trò, chỉ biết cống hiến, tự hào về một nền giáo dục của thế hệ anh và tôi:

             Những điều giáo huấn cô thầy còn ghi

Lợi danh đừng có vân vi

Chính nhân kẻ sĩ, không vì cầu vinh

Sống nhân nghĩa, có lý, tình

Lấy đạo trung, hiếu, răn mình, tu thân.

(Bên mái trường xưa)

 Là một giáo viên, tôi đã đọc nhiều bài thơ viết về thầy cô giáo, nhưng bài thơ "Hoa rừng" của anh đã để lại cho tôi một ấn tượng sâu sắc. Với anh, nghề trồng người, nghề gieo chữ không hề nhàn hạ, trái lại, nó gian nan và đòi hỏi sự hy sinh, một sự hy sinh thầm lặng mà vĩ đại. Biết bao cô gái miền xuôi “Là hoa khôi của quê nhà” đã chấp nhận hy sinh tuổi thanh xuân - một tài sản quý nhất của đời người con gái để làm những bông "hoa rừng" thầm lặng, làm nghề biếu chữ, cõng chữ lên vùng cao:

                                Uốn từng nét chữ chưa tròn

                                Chút chăm từng búp măng non bản nghèo.

                                               (Hoa rừng)

            Tôi trân trọng sự hoài niệm về trường xưa, bạn cũ, về thầy cô trong thơ anh và thực sự xúc động khi đọc bài "Sao bạn không về họp lớp", bởi cái tâm của người viết và bởi thủ pháp sử dụng sự tương phản giữa một bên là những người may mắn, được đi du học, thành đạt trở thành giáo sư, tiến sĩ, nhà văn, tướng tá, doanh nhân -họ được tất cả và một bên là những người lính đã hy sinh ở chiến trường, mà suốt 40 mươi năm không tìm thấy mộ, để lại nỗi đau đáu khôn nguôi cho những người thân - họ mất tất cả, để rồi những lần họp lớp lúc điểm danh đến tên các  anh lại "nhoi nhói đau ở trong trái tim mình" và "trong ngày vui vắng bạn dạ bùi ngùi".

           Mảng thơ thế sự là sự tim tòi, khám phá, sáng tạo rất đáng trân trọng của Võ Quang Diệm. Nếu “Làm thi sĩ nghĩa là ru với gió/ Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” thì sẽ là phiến diện. Cuộc sống đa sắc màu, tốt xấu, phải trái, trắng đen còn lẫn lộn, nhiều giá trị cũ chông chênh là mảng đề tài sinh động, trăn trở, thôi thúc người cầm bút. Những bài thơ viết về nhân tình thế thái đã làm nên một thi sĩ Võ Quang Diệm đa chiều. Từng là một nhà tư vấn, thiết kế, một nhà quản lý am hiểu về quy hoạch, thành viên Ban chỉ đạo các dự án Bô-xít Tây nguyên, được đi nhiều, trải nghiệm, mục sở thị, vốn sống, vốn nghề đã chắt chiu thành ngôn từ cho những bài

“ Lóa mắt”, “Những điều phải nói”, “ Trở về vạn đại”, những bài thơ người đọc phải suy ngẫm và tôi tin có nhiều người đồng cảm với những trăn trở, day dứt của tác giả.

          Tôi thích bài “ Bánh vẽ”. Câu chuyện một đứa trẻ được ông động viên khích lệ, tự tưởng tưởng, tự vẽ ra một chiếc bánh sinh nhật, tự sướng, tự diễn để cuối cùng nhận ra giá trị thực phải là chiếc bánh thật. Một bài thơ sinh động, dí dỏm, một triết lý giản đơn mà thuyết phục.

           Đọc và cảm nhận thơ mỗi người mỗi khác. Tôi tin 4T trong thơ anh, dung dị mà chân tình, giàu chất dân ca sẽ làm rung động, níu giữ hồn thơ trong lòng người đọc. Xin chúc anh gặt hái thêm nhiều thành công hơn nữa trên con đường sáng tạo Nghệ thuật đầy gian truân.

                                                                                    Nam Đàn: Xuân 2014


Trích từ tập ''Bỗng dưng thèm trách mắng'' NXB Hội Nhà văn 2015.

TIN LIÊN QUAN